Sách Khổng giáo/Kinh sách Nho giáo/Kinh dịch/Dịch

Tủ sách mở Wikibooks

Dịch (易 yì) có nghĩa là Thay đổi hay Biến hoá' của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi. Đạo giáo của Trung quốc bắt đầu phát triển sau khi Văn Vương soạn Chu dịch . Chu dịch có 3 nguyên tắc lớn : Một là biến dịch - 2 là giản dịch - 3 là bất dịch . Những người nghiên cứu chu dịch cần nắm bắt và hiểu được 3 nguyên tắc này . Khi áp dụng vào thuật số như Phong thủy , nhân mệnh , tướng học, ...mới phát huy được hết công năng của dịch . Các thuyết của bách gia chư tử đều bắt nguồn từ cuốn sách này.

Dịch[sửa]

Ý nghĩa[sửa]

Dịch (易 yì) có nghĩa là Thay đổi hay Biến hoá' của những thành phần bên trong một vật thể nào đó mà trở nên khác đi.

Vạn vật thế gian đều đang biến hóa, chỉ có bản thân quy luật của Thiên Đạo là bất biến, do đó sự vật biến hóa ắt phải tuân theo quy luật vận hành của Thiên Đạo. Kinh Dịch cho rằng mặc dù vạn vật thế gian đều đang biến hóa, chỉ có bản thân quy luật Thiên Đạo là bất biến. Vậy thì con người nên theo phép của Thiên Đạo, không trái với Trời ngược với lẽ thường, thuận theo thời mà thay đổi thích hợp, như vậy mới có thể bảo trì được lâu dài. Hai khái niệm chỉ đạo hành vi con người của Kinh Dịch, tức “Thời” và “Trung”. Trung có nghĩa là Đạo Trung dung: ở chính giữa cái Đạo tự nhiên của Trời Đất vận hành, trung hòa , không lệch lạc , không thái quá, cũng không bất cập. Thời có nghĩa là thời thế nhất trí: cũng có nghĩa là hài hòa, tiến cùng với thời.

Thí dụ biến hóa của Trời , Trăng , Đất , Biển như sau

Trời Mọc Lên Xuống Lặn
Trăng Lặn Xuống Lên Mọc
Đất Sinh Thịnh Suy Diệt
Biển Diệt Suy Thịnh Sinh

Học thuyết Dịch[sửa]

Tư tưởng triết học cơ bản Dịch dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi . Khái niệm Dịch rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:

  • Bất dịch là bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững - quy luật trung tâm - là không đổi theo không gian và thời gian.
  • Biến dịch là Hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
  • Giản dịch là Thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.

Tóm lại:

Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dịch, nên có quy luật trật tự của sự sống.

Thí dụ[sửa]

Dịch âm dương của Phật tổ

  • Bất dịch khi âm dương giao hòa . Mọi thực thể đều có 2 ca tánh đối nghịch sinh diệt
  • Dịch khi khi âm dương bất hòa . Trong trường hợp khi âm thịnh , dương suy và khi dương thịnh , âm suy
  • Biến dịch khi âm dương sinh diệt . Trong trường hợp khi âm sinh , dương diệt và khi âm diệt , dương sinh

Dịch âm dương của Trời

  • Ấm , Sáng khi mặt rời mọc ở hướng đông
  • Nóng , Tỏ khi mặt rời mọc ở hướng bắc
  • Mát , Mờ khi mặt rời mọc ở hướng tây
  • Lạnh , Tối khi mặt rời mọc ở hướng nam

Dịch âm dương của Đất

  • Xuân , Cây xanh lá khi mặt rời mọc ở hướng đông
  • Hạ , Cây vàng lá khi mặt rời mọc ở hướng bắc
  • Thu , Cây đỏ lá khi mặt rời mọc ở hướng tây
  • Đông , Cây đen lá khi mặt rời mọc ở hướng nam

Tam dịch[sửa]

Ba sách Liên sơn dịch, Quy tàng dịchChu dịch được gọi là Tam dịch . Cho đến nay, Chỉ còn lại Chu dịch . Liên sơn dịch và Qua tàng dịch đã thất truyền .

Chu dịch[sửa]

Văn vương Nhà Chu soạn Chu dịch từ Kinh dịchDịch truyện . Kinh dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục hy (伏羲 Fú Xī) một trong Tam hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra Bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của Ba hào được gọi là Phục hy Bát quái

Liên sơn dịch[sửa]

Dưới triều vua Vũ (禹 ) nhà Hạ, vua Hạ vũ đem quẻ nọ chồng lên quẻ kia, thành ra sáu mươi tư cái sáu vạch, gọi là Sáu mươi tư quẻ (tức là Quẻ kép) được ghi chép lại trong sách Liên sơn dịch (連山 Lián Shān) có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa . Liên sơn dịch bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quáingoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên thiên Bát quái.

Quy tàng dịch[sửa]

Sau khi nhà Hạ bị Nhà Thương thay thế, Vua Thành thang suy diễn các Quẻ sáu hào để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng được chép trong sách Quy tàng dịch . Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên.


Liên sơn dịch là dịch ở thời đại Thần nông, vị trí 8 quẻ được vẽ trong đó khác với vị trí bát quái trong chu dịch .Dịch ở thời đại Hoàng đế là Quy tàng dịch. Liên sơn dịch bắt đầu bằng quẻ Cấn. Quy tàng dịch bắt đầu bằng quẻ Khôn. Chu dịch bắt đầu bằng quẻ Càn , đây là điểm khác biệt giữa Tam dịch.