Học thuyết Khí
Khí là Hơi (Nhiệt) mang theo năng lượng là nguồn gốc sinh lực của vạn vật vũ trụ . Thí dụ, Khí trời nóng, khí trăng lạnh ...
Quy luật Khí
[sửa]Tính âm dương của khí
[sửa]Khí tồn tại ở 2 dạng Âm khí , Dương khí .
Âm Khí Khí có nhiệt lượng thấp , tỏa hơi lạnh Thí dụ như Địa khí (Khí đất) khí từ Mặt đất tỏa hơi lạnh Dương Khí Khí có nhiệt lượng nóng , tỏa hơi nóng Thiên khí (Khí trời) từ Mặt trời tỏa hơi nóng
Khí tụ tán
[sửa]Theo Trương Hoành Cừ
- Khí tụ hình thành . Khí tán hình hoại, muôn vật trở lại Thái Hư.
- Khí tụ thành, Khí tán hoại . Mọi vật trở về Hư không
Loại khí
[sửa]Sinh khí là khí cần thiết trong việc sinh tồn hay tồn tại của mọi vật . Theo quan niệm cổ, Khí là hơi mang theo năng lượng . Thí dụ như Mặt trời có Nhiệt nóng, Mặt trăng có Nhiệt lạnh . Thiên khí mang theo Nhiệt nóng gọi là Dương khí . Địa khí mang theo Nhiệt lạnh gọi là Âm khí
Thuyết Sinh khí cho rằng
- Mọi vật thể đều có một năng lượng nhiệt để sinh tồn gọi là Sinh khí
Khi sinh khí biến mất, mọi vật sẽ không còn sinh tồn hay tồn tại
Dương khí (Yang Qi) trong Đông y và phong thủy là nguồn năng lượng tích cực, ấm áp, đại diện cho sự sinh trưởng, sức sống và động lực hoạt động của cơ thể và môi trường. Khi dương khí dồi dào, cơ thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn, còn khi thiếu dương khí, cơ thể sẽ uể oải, mệt mỏi và dễ bệnh tật.
Âm khí (hoặc Ám khí) là một khái niệm trong phong thủy và y học cổ truyền, chỉ một loại năng lượng âm, lạnh lẽo, tĩnh lặng, đối lập với dương khí
Thiên khí đến từ Trời mang theo Hơi nóng có hướng đi xuống . Thiên Khí đến từ vũ trụ thiên nhiên giúp cho vũ trụ thiên nhiên được vận chuyển trong một trật tự tuần hoàn. Thiên khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thời tiết, khí hậu và thiên tai. Thí dụ như những hiện tượng gió thổi, mưa rơi, bão tố, sấm sét… Thiên khí là sinh khí là khí tạo ra vạn vật
Địa khí đến từ Đất mang theo Hơi lạnh có hướng đi lên . Địa Khí đến từ trong lòng đất được vận chuyển trong một trật tự tuần hoàn. Địa khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến mùa màng, sinh thành của các sinh vật trên trái đất . Địa khí là dưỡng khí là khí nuôi dưỡng ra vạn vật
Sự di chuyển của địa khí được thể hiện qua các hiện tượng như: đất cát di chuyển theo dòng nước lũ, để mang bồi đắp tạo nên những nơi cồn đảo. Trái lại, những vùng mất đất sẽ trở thành sông sâu, lớn rộng. Mặt khác, trong lúc có nhiều mưa, mặt đất trở nên đầy nước ngập lụt. Trái lại, khi khí trời khô, nóng gắt, hạn hán, mặt đất trở nên khô cằn, nứt nẻ. Tất cả những hiện tượng nói trên đều tạo nên sự thay đổi địa khí, do bởi sự mất quân bình âm dương tính trong địa khí.
Nhân Khí là sinh lực con người.
- Nguyên khí
- Hay còn gọi là sinh khí, chân khí, khí của chân nguyên, do tinh của tiên thiên sinh ra, được tàng trữ ở thận, được khí của hậu thiên bổ sung không ngừng Thông qua tam tiêu, nguyên khí đến và kích thích thúc đẩy các tạng phủ hoạt động và quá trình sinh dục- phát dục của cơ thể. Nguyên khí đầy đủ thì thân thể khỏe mạnh, trái lại thì tạng phủ sẽ suy kém, sức chống đỡ với bệnh tật yếu.
- Tông khí
- Tông khí do khí trời và chất tinh vi của đồ ăn do tỳ vị vận hóa kết hợp tạo thành. Sự vận hành của khí, huyết, hô hấp, tiếng nói, hoạt động của tay chân đều có quan hệ mật thiết với tông khí. Tông khí suy giảm còn gây ra ứ huyết.
- Dinh khí (Doanh khí)
- Dinh khí là do chất tinh vi của đồ ăn thức uống được tỳ vận hóa tạo thành, đi vào mạch thành một bộ phận của huyết dịch, theo huyết dịch đi toàn thân. Dinh khí có tác dụng sinh ra huyết và dinh dưỡng toàn thân.
- Vệ khí
- Vệ khí bắt nguồn từ tiên thiên, do dương khí của thận sinh ra, được bổ sung không ngừng bằng các chất tinh vi của đồ ăn do tỳ vị vận hóa ra, hoạt động được do sự tuyên phát của phế. Vì vậy vệ khí gốc ở hạ tiêu (Thận) được nuôi dưỡng do trung tiêu (Tỳ), khai phát ở thượng tiêu (Phế). Vệ khí đi ngoài mạch, phân bố toàn thân, trong thì làm ấm nội tạng, ngoài thì làm ấm cơ nhục, da lông, làm đóng mở tuyến mồ hôi. Vệ khí có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống ngoại tà xâm nhập.
Dưỡng sinh
[sửa]Con người nằm giủa Trời và Đất nên chịu chi phối của Khí trời và Khí đất . Cân bằng giửa Khí Trời và Đất, con người sẽ không bị bệnh hoạn
Trong phép dưởng sinh, người ta cần phải biết sống hòa hợp với luật thiên nhiên, để khai thác tối đa lợi thế của Thiên Khí và Địa Khí, trong việc giữ quân bình âm dương tính cho Nhân Khí của con người. Từ đó, sức đề kháng trong cơ thể được kiện toàn, sẵn sàng tiêu trừ các mầm móng bệnh chứng, có thể xảy ra cho con người. Ngoài ra, viện tập luyện khí công rất ích lợi, giúp cho Nhân Khí được điều hòa, làm chậm sự thoái hóa của các tế báo trong cơ thể, cũng như, điều hợp thuận lợi với Thiên Khí và Địa Khí từ bên ngoài.
Hoàng đế nội kinh
[sửa]Sách Hoàng Ðế Nội Kinh cho rằng Tinh khí tích tụ tại Thận, cơ quan sinh dục có tinh hoàn và buồng trứng đại diện cho 2 khí Khí tiên thiên và Khí hậu thiên . Hai Khí giao hòa với nhau, bổ túc cho nhau để tạo thành một dạng chung gọi là Chân Khí, hàng ngày luân lưu trong các kinh mạch và Lục Phủ Ngũ Tạng của ta.
Chân Khí lại chia thành:
- luân lưu trong các Kinh Mạch và Tạng Phủ với chức năng điều hòa và tăng cường cho sức mạnh của Kinh Mạch và Nội Tạng. Vinh Khí mạnh hay yếu tùy thuộc rất nhiều và tiết thực, vì vậy chúng ta phải rất cẩn thận trong việc ăn uống.
- không đi theo Kinh Mạch mà lại đi vào da thịt.Vệ Khí khuếch tán mạnh có thể đi vào vùng rỗng của khoang ngực, bụng. Tập thở bằng Cơ Hoành (ở bài 2) có thể làm cho Vệ Khí rất có lợi trong luyện tập võ thuật, nó giúp cho gân, xương, cơ bắp của ta trở nên vững chắc và bảo vệ thân thể ta chống chọi với những thay đổi của môi trường xung quanh (như trong thiết bố sam).
Ứng dụng
[sửa]Khí công là một bộ môn tập luyện đêu hòa hơi thở thông qua các phương pháp vận hành khí luân chuyển trong cơ thể con người . Khí công giúp tự rèn luyện sức khỏe . Việc luyện tập khí công không thể tách rời với các hoạt động hàng ngày của cuộc sống: ăn, ngủ, giải trí, làm việc phải điều độ, phù hợp với từng người.
Trong khí công, khí được hiểu là vật chất, tức không khí ta hít thở hàng ngày. Công có nghĩa là luyện tập. Như vậy, khí công là tập luyện nâng cao chức năng sinh lý của cơ thể nói chung, của cơ quan nội tạng nói riêng và tập thở. Luyện thở cũng là một trong những nội dung quan trọng của phương pháp khí công, nội dung chủ yếu của khí công là luyện hoạt động của hệ thần kinh.Muốn tập khí công đạt kết quả tốt, cần tin tưởng, quyết tâm và kiên trì, mặt khác cần có sự hướng dẫn của chuyên môn, không tập trong sự nóng vội
Đối với cơ thể, bình thường thì năng lượng sống tản mát, không trật tự, thậm chí triệt tiêu nhau. Thông qua qua trình luyện tập, lặp đi lặp lại một trạng thái nào đó (có thể là tư thế, động tác, hơi thở…), cuộc sống dần có quy luật, cơ thể cũng dần đạt được trật tự, trường năng lượng của cơ thể trở nên tập trung hơn, hỗ trợ lẫn nhau. Năng lượng vì thế cũng trở nên mạnh hơn (do sự tổng hợp của các năng lượng tản mát trong cơ thể), tác động vào hệ thần kinh rõ rệt hơn, cho con người ta cảm giác về khí.
Nhiều người sau một thời gian tập luyện, đạt được khí cảm, vận khí dễ dàng, cho rằng nội lực đã thâm hậu. Thực ra cảm giác khí và nội lực mạnh hay yếu là hai vấn đề khác nhau. Việc đạt được khí cảm thì dù người khoẻ hay yếu, cứ kiên trì tập luyện sẽ đạt được. Còn nội lực mạnh phải gắn liền với một cơ thể khoẻ mạnh.
Nội khí đầy đủ, mạnh mẽ sẽ làm tăng cường khả năng trao đổi chất giữa máu với tế bào, khiến các tế bào hoạt động tốt, cơ thể trở nên khoẻ mạnh. Cơ thể khoẻ mạnh sẽ sinh ra nhiều nội khí, nhiều hồng cầu, tế bào, khả năng trao đổi chất giữa chúng lại được tăng cường… cứ như vậy, tích luỹ qua nhiều năm tháng, công phu sẽ ngày càng thâm hậu.