Tôn giáo/Tôn giáo trên thế giới/Khổng giáo/Kinh Thư
Kinh Thư (書經 Shū Jīng) hay còn gọi là Thượng Thư (尚書) là một bộ phận trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
Nội dung
[sửa]Nội dung Kinh Thư chủ yếu là ghi chép lại lời nói của vua tôi thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn) cho đến thời nhà Hạ, nhà Thương và thời Tây Chu.
Từ khi Hán Vũ Đế bắt đầu đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, địa vị của Kinh Thư không hề thay đổi. Quá trình biên soạn, chỉnh lý và lưu truyền của Kinh Thư cực kỳ phức tạp, trong lịch sử xuất hiện quá nhiều văn bản có bố cục, nội dung và thể chữ khác nhau, một bộ phận được các học giả trong triều đình tổ chức chỉnh lý, hiệu đính và ban hành thành bản chính thức.
Văn bản Kinh Thư ngày nay chủ yếu xuất hiện vào thời Đông Tấn, nguồn gốc của nội dung một số thiên trong văn bản này bắt đầu bị nghi ngờ từ thời Nam Tống. Đến đầu thời nhà Thanh, một số thiên trong Kinh Thư bị các học giả như Diêm Nhược Cừ xác định là giả (ngụy thư), thậm chí bị loại bỏ ra khỏi Kinh Thư.
Bố cục
[sửa]Bản Kinh Thư hiện hành được chia làm 4 phần
- Ngu thư (ghi chép về đời Nghiêu Thuấn),
- Hạ thư (ghi chép về nhà Hạ),
- Thương thư (ghi chép về nhà Thương)
- Chu thư (ghi chép về nhà Chu, đến thời Tần Mục công).
Bản Kim văn thời Tây Hán chia làm 5 phần
- Đường thư,
- Ngu thư, Hạ thư,
- Thương thư
- Chu thư.
Bản Cổ văn thời Đông Hán chia làm 3 phần
- Ngu Hạ thư,
- Thương thư
- Chu thư.
| Bản hiện nay | Bản thời Đông Hán (Cổ văn học, thất truyền) |
Bản thời Tây Hán (Kim văn học, thất truyền) |
Bản hiện nay | Bản thời Đông Hán (Cổ văn học, thất truyền) |
Bản thời Tây Hán (Kim văn học, thất truyền) |
Bản hiện nay | Bản thời Đông Hán (Cổ văn học, thất truyền) |
Bản thời Tây Hán (Kim văn học, thất truyền) | ||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Ngu thư 虞書 | 1 | Nghiêu điển 堯典 | Ngu Hạ thư 虞夏書 | 1 | Nghiêu điển 堯典 | Đường thư 唐書 | 1 | Nghiêu điển 堯典 | Thương thư 商書 | 21 | Duyệt mệnh thượng 說命上 | Chu thư 周書 | 41 | Lạc cáo 洛誥 | 23 | Lạc cáo 洛誥 | 19 | Lạc cáo 雒誥 | ||||||
| 2 | Thuấn điển 舜典 | 22 | Duyệt mệnh trung 說命中 | 42 | Đa sĩ 多士 | 24 | Đa sĩ 多士 | 20 | Đa sĩ 多士 | |||||||||||||||
| 3 | Đại Vũ mô 大禹謨 | 23 | Duyệt mệnh hạ 說命下 | 43 | Vô dật 無逸 | 25 | Vô dật 無逸 | 21 | Vô dật 毋劮 | |||||||||||||||
| 4 | Cao Dao mô 臯陶謨 | 2 | Cao Dao mô 臯陶謨 | Ngu thư 虞書 | 2 | Cao Dao mô 咎繇謨 | 24 | Cao Tông dung nhật 高宗肜日 | 9 | Cao Tông dung nhật 高宗肜日 | 7 | Cao Tông dung nhật 高宗肜日 | 44 | Quân Thích 君奭 | 26 | Quân Thích 君奭 | 22 | Quân Thích 君奭 | ||||||
| 5 | Ích Tắc 益稷 | 25 | Tây Bá kham Lê 西伯戡黎 | 10 | Tây Bá kham Lê 西伯戡黎 | 8 | Tây Bá kham cơ 西伯堪飢 | 45 | Sái Trọng chi mệnh 蔡仲之命 | |||||||||||||||
| Hạ thư 夏書 | 6 | Vũ cống 禹貢 | 3 | Vũ cống 禹貢 | Hạ thư 夏書 | 3 | Vũ cống 禹貢 | 26 | Vi Tử 微子 | 11 | Vi Tử 微子 | 9 | Vi Tử 微子 | 46 | Đa phương 多方 | 27 | Đa phương 多方 | 23 | Đa phương 多方 | |||||
| 7 | Cam thệ 甘誓 | 4 | Cam thệ 甘誓 | 4 | Cam thệ 甘誓 | Chu thư 周書 | 27 | Thái thệ thượng 泰誓上 | 12 | Thái thệ ba thiên《太誓》三篇 | 10 | Thái thệ 大誓 | 47 | Lập chính 立政 | 28 | Lập chính 立政 | 24 | Lập chính 立政 | ||||||
| 8 | Ngũ tử chi ca 五子之歌 | 28 | Thái thệ trung 泰誓中 | 13 | 48 | Chu quan 周官 | ||||||||||||||||||
| 9 | Dận chinh 胤征 | 29 | Thái thệ hạ 泰誓下 | 14 | 49 | Quân Trần 君陳 | ||||||||||||||||||
| Thương thư 商書 | 10 | Thang thệ 湯誓 | Thương thư 商書 | 5 | Thang thệ 湯誓 | Thương thư 商書 | 5 | Thang thệ 湯誓 | 30 | Mục thệ 牧誓 | 15 | Mục thệ 牧誓 | 11 | Mục thệ 坶誓 | 50 | Cố mệnh 顧命 | 29 | Cố mệnh 顧命 | 25 | Cố mệnh 顧命 | ||||
| 11 | Trọng Hủy chi cáo 仲虺之誥 | 31 | Vũ thành 武成 | 51 | Khang vương chi cáo 康王之誥 | 30 | Khang vương chi cáo 康王之誥 | |||||||||||||||||
| 12 | Thang cáo 湯誥 | 32 | Hồng phạm 洪範 | 16 | Hồng phạm 洪範 | 12 | Hồng phạm 鴻範 | 52 | Tất mệnh 畢命 | |||||||||||||||
| 13 | Y huấn 伊訓 | 33 | Lữ ngao 旅獒 | 53 | Quân Nha 君牙 | |||||||||||||||||||
| 14 | Thái Giáp thượng 太甲上 | 34 | Kim đằng 金縢 | 17 | Kim đằng 金縢 | 13 | Đại cáo 大誥 | 54 | Quýnh mệnh 冏命 | |||||||||||||||
| 15 | Thái Giáp trung 太甲中 | 35 | Đại cáo 大誥 | 18 | Đại cáo 大誥 | 14 | Kim đằng 金縢 | 55 | Lã hình 呂刑 | 31 | Bí thệ 粊誓 | 26 | Phủ hình 甫刑 | |||||||||||
| 16 | Thái Giáp hạ 太甲下 | 36 | Vi Tử chi mệnh 微子之命 | 56 | Văn hầu chi mệnh 文侯之命 | 32 | Lã hình 呂刑 | 27 | Văn hầu chi mệnh 文侯之命 | |||||||||||||||
| 17 | Hàm hữu nhất đức 咸有一德 | 37 | Khang cáo 康誥 | 19 | Khang cáo 康誥 | 15 | Khang cáo 康誥 | 57 | Phí thệ 費誓 | 33 | Văn hầu chi mệnh 文侯之命 | 28 | Tiên thệ 鮮誓 | |||||||||||
| 18 | Bàn Canh thượng 盤庚上 | 6 | Bàn Canh ba thiên《盤庚》三篇 | 6 | Bàn Canh 般庚 | 38 | Tửu cáo 酒誥 | 20 | Tửu cáo 酒誥 | 16 | Tửu cáo 酒誥 | 58 | Tần thệ 秦誓 | 34 | Tần thệ 秦誓 | 29 | Tần thệ 秦誓 | |||||||
| 19 | Bàn Canh trung 盤庚中 | 7 | 39 | Tử tài 梓材 | 21 | Tử tài 梓材 | 17 | Tử tài 梓材 | Thư tự 書序 | Phân tán ở đầu mỗi thiên | Tập trung ở cuối sách | |||||||||||||
| 20 | Bàn Canh hạ 盤庚下 | 8 | 40 | Thiệu cáo 召誥 | 22 | Thiệu cáo 召誥 | 18 | Thiệu cáo 召誥 | ||||||||||||||||
Tiêu đề một số thiên dùng chữ khác nhau, chủ yếu là do giả tá, tuy nhiên có trường hợp dùng sai chữ. Ví dụ như thiên thứ 57 trong bản hiện hành có tên là Phí thệ (費誓), thiên thứ 31 trong bản thời Đông Hán có tên là Bí thệ (粊誓), thiên thứ 28 trong bản thời Tây Hán có tên là Tiên thệ (鮮誓), hai chữ Tiên (鮮) và Bí (粊) có thể dùng thay cho nhau, hơn nữa còn cùng một địa danh, trong khi chữ Phí (費) không cùng địa danh, hai địa điểm này tuy gần nhau nhưng không phải là một, vì vậy tên của thiên này không nên viết thành Phí (費)
| STT | Tên thiên |
|---|---|
| 1 | Doãn chí 尹至 |
| 2 | Doãn cáo 尹誥 |
| 3 | Trình ngụ 程寤 |
| 4 | Bảo huấn 保訓 |
| 5 | Kỳ dạ 耆夜 |
| 6 | Kim đằng 金縢 |
| 7 | Hoàng môn 皇門 |
| 8 | Tế công 祭公 |
| 9–11 | Phó Duyệt chi mệnh 傅說之命 (ba thiên) |
| 12 | Mệnh huấn 命訓 |
| 13 | Hậu Phụ 厚父 |
| 14 | Phong Hứa chi mệnh 封許之命 |
| STT | Tên thiên |
|---|---|
| 1 | Mịch tác 汨作 |
| 2–10 | Cửu cung 九共 (9 thiên) |
| 11 | Cảo ốc 稾飫 |
| 12 | Đế cáo 帝告 |
| 13 | Ly ốc 釐沃 |
| 14 | Thang chinh 湯征 |
| 15 | Nhữ Cưu 汝鳩 |
| 16 | Nhữ Phương 汝方 |
| 17 | Hạ xã 夏社 |
| 18 | Nghi chí 疑至 |
| 19 | Thần hỗ 臣扈 |
| 20 | Điển bảo 典寶 |
| 21 | Minh cư 明居 |
| 22 | Tứ mệnh 肆命 |
| 23 | Tồ hậu 徂后 |
| 24 | Ốc Đinh 沃丁 |
| 25–28 | Hàm nghệ 咸乂 (4 thiên) |
| 29 | Y Trắc 伊陟 |
| 30 | Nguyên mệnh 原命 |
| 31 | Trọng Đinh 仲丁 |
| 32 | Hà Đản Giáp 河亶甲 |
| 33 | Tổ Ất 祖乙 |
| 34 | Cao Tông chi huấn 高宗之訓 |
| 35 | Phân khí 分器 |
| 36 | Lữ Sào mệnh 旅巢命 |
| 37 | Quy hòa 歸禾 |
| 38 | Gia hòa 嘉禾 |
| 39 | Thành Vương chính 成王政 |
| 40 | Tương Bồ Cô 將蒲姑 |
| 41 | Hối Túc Thận chi mệnh 賄肅慎之命 |
| 42 | Bạc Cô 亳姑 |
| 43 | Lã mệnh 呂命 |
Lịch sử
[sửa]Văn bản Kinh Thư có hai loại: bản Kim văn của Phục Sinh thời Tây Hán, bao gồm 29 thiên, và bản Cổ văn thời Đông Tấn, trên có lời tựa của Khổng An Quốc, bao gồm 58 thiên. Đến đời Đường Huyền Tông niên hiệu Thiên Bảo, hai bản Kim văn và Cổ văn được nhập làm một thành bản Kinh Thư hiện nay
Cuối thời Tây Hán, bắt đầu xảy ra cuộc tranh chấp giữa 2 phái Kim văn học và Cổ văn học, kết quả phái Cổ văn học ngày một thịnh lên trong khi phái Kim văn học suy yếu dần. Tranh chấp giữa Kim văn học và Cổ văn học còn kéo dài đến cuối thời Thanh.
Kim văn Thượng Thư
[sửa]
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Nho lâm liệt truyện, Phục Sinh tên là Thắng, làm quan bác sĩ đời Tần. Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách chôn nho, Phục Sinh phải giấu sách Thượng Thư ở trong vách. Sang đời Hán, Phục Sinh tìm lại sách Thượng Thư nhưng mất đi vài chục thiên, chỉ còn lại 29 thiên, liền đem dạy ở Tề, Lỗ. Vua Hán Văn Đế hạ chiếu tìm người hiểu được sách Thượng Thư, chỉ có Phục Sinh hiểu được nên được vời vào triều. Nhưng do ông già quá (đã hơn 90 tuổi) không đi được nên Hán Văn Đế sai Tiều Thố đến nhà Phục Sinh để học sách Thượng Thư.
Theo lời tựa sách Cổ văn Thượng Thư của Vệ Hoằng, thì khi Tiều Thố đến nhà Phục Sinh, Phục Sinh già nói không được đúng tiếng, phải sai con gái mình dạy Tiều Thố. Vì tiếng nói khác nhau nên nhiều chỗ Tiều Thố không hiểu được, chỉ hiểu lược lấy ý rồi học thuộc lòng.
Theo lời Khổng Dĩnh Đạt thì bản Thượng Thư mà Phục Sinh truyền dạy chỉ có 28 thiên, còn thiên Thái thệ thì không phải vì nó được tìm thấy vào đời Hán Vũ Đế, sau bị các sử gia gộp chung vào thành ra 29 thiên[1].
Bản Kinh Thư của Phục Sinh được viết bằng kim văn, nên gọi là Kim văn Thượng Thư
Phục Sinh truyền lại lời giải thích Kinh Thư của mình cho Âu Dương Sinh (Âu Dương Hòa Bá) và Trương Sinh, Trương Sinh truyền lại cho Âu Dương Cao, Hạ Hầu Thắng (Đại Hạ Hầu) và Hạ Hầu Kiến (Tiểu Hạ Hầu), nên Kim văn Thượng Thư được truyền lại cho ba nhà. Hán Vũ Đế đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, phong họ Âu Dương làm học quan. Đến thời Hán Tuyên Đế, sau sự kiện Thạch Cừ nghị tấu, cả ba nhà đều được phong làm học quan.
14 quan bác sĩ thời Đông Hán đều thuộc ba nhà là họ Âu Dương, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hầu, nhưng bản Kim văn Thượng Thư của ba nhà nay đều đã thất truyền, ngày nay chỉ có thể căn cứ vào phần tàn khuyết của kinh văn khắc trên đá trong niên hiệu Hy Bình đời Hán Linh Đế để suy đoán diện mạo bản Kim văn Thượng Thư của họ Âu Dương.
Cổ văn Thượng Thư
[sửa]Theo Hán thư, Nghệ văn chí, cuối thời Hán Vũ Đế, Lỗ Cung Vương sai người phá nhà cũ của Khổng Tử ở Khúc Phụ (Sơn Đông) để mở rộng cung thất, phát hiện một bản Kinh Thư được viết bằng chữ khoa đẩu, cùng với Lễ ký, Luận ngữ, Hiếu kinh khoảng vài chục thiên. Khi Lỗ Cung Vương vào nhà Khổng Tử thì nghe thấy tiếng đàn cầm đàn sắt và chuông khánh nên sợ không dám phá nữa. Khổng An Quốc là hậu duệ Khổng Tử được sách này, khảo cứu được 29 thiên.
So với bản Kim văn của Phục Sinh thì bản Cổ văn của Khổng An Quốc có thêm 16 thiên, lời văn khác nhau hơn 700 chỗ, là văn bản vô cùng quý giá thời Tiên Tần. Thời Hán Vũ Đế, hậu duệ hoặc học sinh của Khổng An Quốc dâng bản Cổ văn Thượng Thư này cho triều đình[2], Lưu Hướng gọi bản này là Trung cổ văn. Sử ký, Nho lâm liệt truyện nói rằng họ Khổng có một bản Cổ văn Thượng Thư, Khổng An Quốc dùng kim văn để đọc nó, tìm thấy các thiên đã mất (dật thiên) được hơn 10 thiên
Cổ văn Thượng Thư bắt đầu được lưu truyền trong dân gian, ảnh hưởng còn ít. Thời Hán Bình Đế, Lưu Hâm sau khi so sánh sự khác biệt giữa Cổ văn và Kim văn thì nghiêng hẳn về Cổ văn, kiến nghị triều đình lấy các kinh sách Cổ văn làm quốc học, dẫn đến cuộc tranh chấp giữa Cổ văn và Kim văn. Thời Đông Hán, bản Cổ văn hoàn chỉnh của Khổng An Quốc bị thất truyền, Đỗ Lâm ở Hà Tây tìm được một bản Cổ văn Thượng Thư được viết bằng sơn trên thẻ tre, cũng bao gồm 29 thiên giống như bản Kim văn Thượng Thư, nhưng không có thêm 16 thiên như trong bản của Khổng An Quốc. Cuối thời Đông Hán, các nhà kinh học như Giả Quỳ, Mã Dung và Trịnh Huyền chú thích bản viết bằng sơn trên thẻ tre này, tích cực đề xướng việc học tập bản Cổ văn này của Đỗ Lâm, số người học dần dần tăng lên, bản Đỗ Lâm dần dần chiếm ưu thế trong giới học thuật.
Ngụy Cổ văn Thượng Thư
[sửa]Vào thời Hán Thành Đế, Trương Bá ở Đông Lai sửa chữa lại 29 thiên trong Kinh Thư, dựa vào Tả truyện và Thượng Thư tự biên soạn thành một bản Kinh Thư bao gồm 102 thiên, gọi là Nhất bách linh nhị thiên Thượng Thư. Sau đó bản này bị phát hiện là sách ngụy tạo, nên Trương Bá bị hạ ngục, bản Thượng Thư ngụy tạo này sau khi lưu truyền được một thời gian thì bị thất truyền.
Đến thời Tây Tấn xảy ra loạn Vĩnh Gia, thư viện hoàng gia của nhà Tấn bị hủy hoại nghiêm trọng, bản Kim văn Thượng Thư của ba phái Âu Dương Cao, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hầu đều bị mất toàn bộ, nên kinh văn và chú sớ của bản Kim văn Thượng Thư do Phục Sinh truyền lại đều bị thất truyền, vì vậy bản Cổ văn Thượng Thư viết bằng sơn trên thẻ tre của Đỗ Lâm do Trịnh Huyền chú thích trở thành bản Kinh Thư chủ yếu lúc bấy giờ. Đến thời Tấn Nguyên Đế, Thái thú quận Dự Chương là Mai Trách dâng một bản Kinh Thư lên triều đình, bản này bao gồm 58 thiên, tự nhận là lấy từ bản Cổ văn Thượng Thư đã thất truyền của Khổng An Quốc, trong đó ngoài 33 thiên có trong Kim văn Thượng Thư và bản viết bằng sơn trên thẻ tre của Đỗ Lâm (nguyên có 29 thiên bị chia nhỏ thành 33 thiên) còn có thêm 25 thiên Cổ văn Thượng Thư, đầu sách có phần Truyện (tức là lời tựa) được cho là do Khổng An Quốc viết. Bản này về sau bị gọi là Ngụy Khổng truyện Thượng Thư.
Các học giả thời Đường rất tin tưởng bản Kinh Thư này và dùng nó làm bản chính thức, Khổng Dĩnh Đạt vâng lệnh vua biên soạn Thượng Thư chính nghĩa bao gồm 20 quyển, là một trong Ngũ kinh chính nghĩa, Thập tam kinh chú sớ, được khắc vào đá trong niên hiệu Khai Thành đời Đường Văn Tông, trở thành bản tiêu chuẩn dùng trong khoa cử, từ đó bộ Ngụy Khổng truyện Thượng Thư này hoàn toàn thay thế bản do Trịnh Huyền chú thích, có ảnh hưởng hơn 1000 năm, bản Cổ văn Thượng Thư do Trịnh Huyền chú thích hoàn toàn thất truyền.
Tuy nhiên, bắt đầu từ thời Tống, nhiều học giả như Chu Hy, Ngô Vực bắt đầu nghi ngờ tính chân thực của Ngụy Khổng truyện Thượng Thư, Ngô Vực cho rằng bản Kinh Thư của Phục Sinh quanh co trúc trắc, khó đọc khó hiểu, trong khi 25 thiên có trong Ngụy Khổng truyện Thượng Thư lại đơn giản dễ hiểu. Chu Hy cho rằng: "Trong bản Thượng Thư lấy từ vách nhà họ Khổng, các thiên như Vũ mô, Ngũ tử chi ca, Dận chinh, Thái thệ, Vũ thành, Quýnh mệnh, Vi Tử chi mệnh, Sái Trọng chi mệnh, Quân Nha đều bình thường dễ hiểu, còn lời truyền lại của Phục Sinh đều khó đọc, tại sao Phục Sinh thiên về ghi nhớ những lời khó hiểu, còn những lời dễ hiểu lại không ghi nhớ? Việc này không thể hiểu được"
Đến thời nhà Thanh, các học giả như Diêm Nhược Cừ và Huệ Đống khảo cứu rằng bản Cổ văn Thượng Thư này là giả, không phải là nguyên bản của Khổng An Quốc, Diêm Nhược Cừ cho rằng trong 16 chữ ấy thì 12 chữ đầu được lấy từ Đạo kinh do Tuân Tử dẫn lại, 4 chữ sau được lấy từ Luận ngữ. Người cùng thời là Mao Kỳ Linh biên soạn Cổ văn Thượng Thư oan từ phản bác lại quan điểm của Diêm Nhược Cừ, cho rằng: "Dùng trăm kế để bài bác, cuối cùng cũng không thể lấy lời nói càn mà giành được chân lý". Tuy vậy quan điểm của Diêm Nhược Cừ được đại đa số học giả chấp nhận, vì vậy ngày nay bản Kinh Thư này được gọi là Ngụy Khổng truyện Thượng Thư hoặc Ngụy Cổ văn Thượng Thư. Nhưng suy cho cùng bản này có phải là ngụy thư hay không, nếu là ngụy thư thì tác giả là ai, cho đến nay vẫn chưa rõ. Hiện nay một số bản Thượng Thư đã loại bỏ 25 thiên trong Ngụy Khổng truyện Thượng Thư, chỉ giữ lại 33 thiên tương ứng với 29 thiên trong Kim văn Thượng Thư.
| STT | Tên thiên | Thuộc phần | Tính chất |
|---|---|---|---|
| 1 | Đại Vũ mô 大禹謨 | Ngu thư 虞書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 2 | Ngũ tử chi ca 五子之歌 | Hạ thư 夏書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 3 | Dận chinh 胤征 | Hạ thư 夏書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 4 | Trọng Hủy chi cáo 仲虺之誥 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 5 | Thang cáo 湯誥 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 6 | Y huấn 伊訓 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 7 | Thái Giáp thượng 太甲上 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 8 | Thái Giáp trung 太甲中 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 9 | Thái Giáp hạ 太甲下 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 10 | Hàm hữu nhất đức 咸有一德 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 11 | Duyệt mệnh thượng 說命上 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 12 | Duyệt mệnh trung 說命中 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 13 | Duyệt mệnh hạ 說命下 | Thương thư 商書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 14 | Thái thệ thượng 泰誓上 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 15 | Thái thệ trung 泰誓中 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 16 | Thái thệ hạ 泰誓下 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 17 | Vũ thành 武成 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 18 | Lữ ngao 旅獒 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 19 | Vi Tử chi mệnh 微子之命 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 20 | Sái Trọng chi mệnh 蔡仲之命 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 21 | Chu quan 周官 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 22 | Quân Trần 君陳 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 23 | Tất mệnh 畢命 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 24 | Quân Nha 君牙 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
| 25 | Quýnh mệnh 冏命 | Chu thư 周書 | Cổ văn ngụy tạo |
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênNT - ↑ Hán thư, Nghệ văn chí nói rằng Khổng An Quốc hiến bản Cổ văn Thượng Thư cho triều đình, nhưng vì gặp nạn vu cổ nên chưa được liệt vào hàng học quan (An Quốc hiến chi, tao vu cổ sự, vị liệt ư học quan). Tuy nhiên, Thượng Thư Cổ văn sớ chứng, quyển 2 của Diêm Nhược Cừ nói rằng: "Ta vẫn thường nghi việc An Quốc hiến Kinh Thư, gặp phải nạn vu cổ, tuổi tác ắt phải cao, so với Tư Mã Thiên nói rằng (An Quốc) chết sớm là không phù hợp. Nếu tin vào Sử ký nói rằng (An Quốc) chết sớm, thì người hiến Thư nói trong Hán thư không phải là An Quốc, còn nếu tin việc hiến Thư nói trong Hán thư, thì An Quốc không thể chết sớm như trong Sử ký. Tư Mã Thiên đã từng giao du với An Quốc, thì năm sinh năm mất không thể nào nhầm được. Thiết nghĩ sau niên hiệu Thiên Hán, An Quốc mất đã lâu, người hiến Thư là con cháu trong nhà chứ không phải bản thân (An Quốc), nhưng khổ nổi không có bằng chứng rõ ràng. Hơn nữa khi đọc trong sách Hán kỷ, Thành Đế kỷ, nói rằng: "Lỗ Cung Vương phá nhà Khổng Tử, lấy được Cổ văn Thượng Thư, có nhiều hơn 16 thiên. Thời Vũ Đế, nhà Khổng An Quốc (Khổng An Quốc gia) hiến cho triều đình, gặp phải nạn vu cổ, chưa được liệt vào hàng học quan". Sau chữ An Quốc có thêm một chữ "gia", bổ sung chỗ thiếu sót của Hán thư" (Dư thường nghi An Quốc hiến Thư, tao vu cổ chi nạn, kế kì niên tất cao, dữ Mã Thiên sở vân tảo tuất giả bất hợp. Tín Sử ký tảo tuất, tắc Hán thư chi hiến Thư tất phi An Quốc, tín Hán thư hiến Thư, tắc Sử ký chi An Quốc tất phi tảo tuất. Nhiên Mã Thiên thân tòng An Quốc du giả dã, ký kì sinh tuất tất bất ngộ giả dã. Thiết ý Thiên Hán hậu, An Quốc tử dĩ cửu, hoặc kì gia tử tôn hiến chi, phi tất kì thân, nhi khổ vô minh chứng. Việt sổ tái, độc tuân duyệt Hán kỷ, Thành Đế kỷ vân: Lỗ Cung Vương hoại Khổng Tử trạch, đắc Cổ văn Thượng thư, đa thập lục thiên. Vũ Đế thì, Khổng An Quốc gia hiến chi. Hội vu cổ sự, vị liệt ư học quan. Vu An Quốc hạ tăng nhất "gia" tự, túc bổ Hán thư chi lậu).