Bước tới nội dung

Kinh Thư

Tủ sách mở Wikibooks

Kinh Thư (書經 Shū Jīng) hay còn gọi là Thượng Thư (尚書) là một bộ phận trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.

Nội dung Kinh Thư chủ yếu là ghi chép lại lời nói của vua tôi thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn) cho đến thời nhà Hạ, nhà Thương và thời Tây Chu. Từ khi Hán Vũ Đế bắt đầu đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, địa vị của Kinh Thư không hề thay đổi. Quá trình biên soạn, chỉnh lý và lưu truyền của Kinh Thư cực kỳ phức tạp, trong lịch sử xuất hiện quá nhiều văn bản có bố cục, nội dung và thể chữ khác nhau, một bộ phận được các học giả trong triều đình tổ chức chỉnh lý, hiệu đính và ban hành thành bản chính thức. Văn bản Kinh Thư ngày nay chủ yếu xuất hiện vào thời Đông Tấn, nguồn gốc của nội dung một số thiên trong văn bản này bắt đầu bị nghi ngờ từ thời Nam Tống. Đến đầu thời nhà Thanh, một số thiên trong Kinh Thư bị các học giả như Diêm Nhược Cừ xác định là giả (ngụy thư), thậm chí bị loại bỏ ra khỏi Kinh Thư.

Nội dung

[sửa]

Nội dung chủ yếu của Kinh Thư là ghi chép lịch sử Trung Quốc thời thượng cổ, bắt đầu từ thời Nghiêu, Thuấn và kết thúc vào thời Tần Mục công, bao gồm ba triều đại Hạ, Thương, Chu. Nhượng Tống đánh giá Kinh Thư "là một cuốn sử cổ nhất nước Tàu, mà có lẽ cổ nhất cả thế gian". Trong tác phẩm Thượng Thư thông luận của Trần Mộng Gia, ở chương 1 đã thống kê trong 9 tác phẩm thời Tiên Tần bao gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Tả truyện, Quốc ngữ, Mặc Tử, Lễ ký, Hàn Phi Tử, Tuân Tử, Lã thị Xuân Thu có tổng cộng 168 chỗ trích dẫn từ Kinh Thư. Kinh Thư có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử và tư tưởng chính trị của Trung Quốc thời cổ đại.

Các thiên trong Kinh Thư có thể chia làm sáu loại:

  1. (謨): lời điều trần của quan đời Hữu Ngu. Bao gồm 2 thiên Đại VũCao Dao.
  2. Huấn (訓): lời khuyên bảo. Bao gồm thiên Y huấn là lời khuyên bảo của Y Doãn đối với Thái Giáp.
  3. Cáo (誥): lời răn bảo hoặc bố cáo ra khắp thiên hạ. Bao gồm 8 thiên, như thiên Đại cáo là lời bố cáo của Chu Công sau khi dẹp loạn "Tam giám" và tiêu diệt Vũ Canh.
  4. Thệ (誓): lời thề, khi dụng binh tức là bài hịch. Bao gồm 6 thiên, như thiên Tần thệ ghi lại lời thề của Tần Mục công.
  5. Mệnh (命): lời sắc mệnh của người trên ban khắp thiên hạ. Bao gồm 7 thiên như các thiên Duyệt mệnh, Vi Tử chi mệnh.
Nội dung Kinh Thư
Ngu thư
STT Tên thiên Nội dung
1 Nghiêu điển Điển phạm, đức nghiệp của vua Nghiêu
2 Thuấn điển Điển phạm, đức nghiệp của vua Thuấn
3 Đại Vũ mô Mưu mô trị nước của đề nghị lên vua Thuấn
4 Cao Dao mô Mưu mô của Cao Dao kiến nghị với vua Vũ
5 Ích Tắc Mưu mô của ÍchTắc
Hạ thư
STT Tên thiên Nội dung
6 Vũ cống Vua trị thủy, phép cống phú của nhà Hạ, ghi chép về địa lý và sản vật
7 Cam thệ Lời thệ sư ở đất Cam khi vua Khải đi đánh họ Hữu Hộ
8 Ngũ tử chi ca Bài ca của năm người em khuyên can vua Thái Khang
9 Dận chinh Dận hầu đi chinh phạt họ Hy và họ Hòa
Thương thư
STT Tên thiên Nội dung
10 Thang thệ Lời thề của vua Thang khi đem quân đánh vua Kiệt nhà Hạ
11 Trọng Hủy chi cáo Lời ông Trọng Hủy giải thích hành động "cách mạng" của vua Thang
12 Thang cáo Bá cáo của vua Thang sau khi diệt nhà Hạ
13 Y huấn Lời Y Doãn dạy bảo Thái Giáp lúc mới lên ngôi
14–16 Thái Giáp thượng, trung, hạ Những lời Y Doãn khuyên vua Thái Giáp và những lời hối lỗi của Thái Giáp
17 Hàm hữu nhất đức Lời Y Doãn dặn bảo vua Thái Giáp trước khi ông về nghỉ
18–20 Bàn Canh thượng, trung, hạ Vua Bàn Canh dời đô về ấp cũ để lấy lại vương khí, giải thích và chỉ bảo cho nhân dân về việc dời đô
21–23 Duyệt mệnh thượng, trung, hạ Vua Vũ Đinh tìm được Phó Duyệt là người tài, trao quyền và nghe theo Phó Duyệt
24 Cao Tông dung nhật Con vua Cao Tông can vua về việc tế cha đẻ long trọng hơn tế tổ tiên
25 Tây Bá kham Lê Chức bá miền Tây đánh nước Lê
26 Vi Tử Vi Tử định cứu vua Trụ nhưng không được
Chu thư
STT Tên thiên Nội dung
27–29 Thái thệ thượng, trung, hạ Lời răn quân sĩ của Chu Vũ vương khi đi đánh vua Trụ nhà Thương
30 Mục thệ Chu Vũ vương thệ sư ở cánh đồng Mục Dã
31 Vũ thành Bá cáo vũ công đánh Trụ đã hoàn thành
32 Hồng phạm 9 phạm trù lớn về triết học, chính trị, đạo đức để trị nước (ngũ hành, ngũ sự, bát chính, ngũ kỷ, hoàng cực, tam đức, kê nghi, thứ trưng, ngũ phúc-lục cực)
33 Lữ ngao Lời can Chu Vũ vương đừng nhận chó ngao do nước Tây Lữ dâng cống
34 Kim đằng Chu Công khấn tổ tiên, xin chết thay vua
35 Đại cáo Bố cáo việc đánh dẹp hai người em làm phản (Quản Thúc, Sái Thúc)
36 Vi Tử chi mệnh Cáo mệnh phong cho Vi Tử ở nước Tống
37 Khang cáo Cáo mệnh phong Khang Thúc ở nước Vệ
38 Tửu cáo Răn Khang Thúc không nên uống rượu
39 Tử tài Lời vua Vũ vương khuyên Khang Thúc
40 Thiệu cáo Thư của Thiệu công Thích báo cáo vua Thành vương về việc xây dựng kinh đô Lạc Ấp
41 Lạc cáo Bố cáo việc định đô ở Lạc Ấp, cử Chu Công ở lại cai trị
42 Đa sĩ Chu Công kêu gọi các sĩ phu nhà Ân khi mới sang Lạc Ấp
43 Vô dật Chu Công khuyên Thành Vương chăm lo chính sự, chớ nên nhàn dật
44 Quân Thích Thiệu công Thích xin về hưu, Chu Công giữ lại
45 Sái Trọng chi mệnh Cáo mệnh phong tước cho Sái Trọng, con Sái Thúc
46 Đa phương Lời bá cáo của Thành Vương sau khi diệt nước Yêm
47 Lập chính Thư của Chu Công khuyên Thành Vương
48 Chu quan Lời vua Thành Vương huấn thị bách quan
49 Quân Trần Cáo mệnh phong cho Quân Trần giữ chức thay Chu Công mới mất
50 Cố mệnh Lời vua Thành Vương dặn lại khi sắp mất
51 Khang Vương chi cáo Chu Khang Vương trả lời Quân Trần
52 Tất mệnh Khang Vương ban sắc cho Tất công Cao ra trị đất Thành Chu
53 Quân Nha Chu Mục vương sai Quân Nha làm chức Tư đồ, coi việc giáo dục
54 Quýnh mệnh Cáo mệnh của Mục Vương sai Bá Quýnh làm chức Thái Bộc chính, tuyển dụng quan liêu
55 Lã hình Lời vua Mục Vương sai Lã hầu công bố hình luật cho toàn dân
56 Văn hầu chi mệnh Chu Bình vương sai Tấn Văn hầu làm chức Phương bá
57 Phí thệ Bá Cầm vua nước Lỗ thệ sư ở đất Phí khi đi đánh Hoài Di và Từ Nhung
58 Tần thệ Vua Tần Mục công hối lỗi về sai lầm trong hành động quân sự, thệ cáo với quần thần

Các thiên trong Kinh Thư đều có nghĩa lý cổ xưa thâm thúy, khó đọc khó hiểu, trong đó thể cáo đặc biệt trúc trắc khó hiểu, mỗi lời mỗi chữ đều có nhiều cách giải thích khác nhau, Hán thư, Nho lâm truyện nói rằng: "Một bộ kinh có đến hơn trăm vạn lời giải thích" , như Trịnh Huyền giải thích là: "Kê cổ nghĩa là theo đạo trời, nói phép tắc của vua Nghiêu giống như đạo trời". Vì vậy Hàn Dũ trong Tiến học giải nói các thiên Chu cáo, Ân Bàn trúc trắc khó hiểu, trong Sử ký, Ngũ đế bản kỷ được viết thành "kính thuận hạo thiên" (敬順昊天). Dương Hùng trong Pháp ngôn, thiên Vấn thần nói rằng: "Theo thuyết xưa Kinh Thư có khoảng 100 thiên [...] Ngu Hạ thư rộng lớn thay, Thương thư mênh mông thay, Chu thư chính trực thay". Vương Quốc Duy cho rằng gần một nửa Kinh Thư không thể giải thích được


Ngu thư ghi chép lịch sử cổ đại của Trung Quốc thời Nghiêu, Thuấn. Cố Viêm Vũ trong Nhật tri lục, quyển 2 nói: "Nghi rằng thời cổ có Nghiêu điển không có Thuấn điển, có Hạ thư không có Ngu thư, mà Nghiêu điển cũng nằm trong Hạ thư". Nhật tri lục tập thích dẫn lời Tôn thị Chí Tổ nói rằng: "Xét trong Tả truyện, Văn công năm thứ 18 có nói rõ về Ngu thư, kể công lao của vua Thuấn là làm sáng rõ ngũ điển..., vậy sao lại nói chỉ có Hạ thư không có Ngu thư? Thiết nghĩ người xưa lấy hai điển (Nghiêu điển, Thuấn điển) làm Ngu thư, từ Đại Vũ mô trở xuống làm Hạ thư". Thiên Vũ cống trong Hạ thư ghi chép địa lý Trung Quốc sau khi vua trị thủy thành công, số người nghiên cứu thiên này rất nhiều, thiên Cam thệ xuất hiện trong sách Mặc Tử thời Chiến Quốc, Ngu thư cũng xuất hiện trong Tả truyện. Chu thư ghi lại các tư liệu quan trọng của nhà Chu trong những năm đầu lập quốc, phần nhiều là những ghi chép của chính bản thân Chu Công.

Mạnh Tử từng nói thiên Vũ thành trong Kinh Thư không thể tin hết được: "Trọn tin Kinh Thư chẳng bằng không có Kinh Thư. Trong thiên Vũ thành ta chỉ tin được hai ba đoạn mà thôi. Người có nhân thì vô địch trong thiên hạ. Lấy chí nhân đánh chí bất nhân, tại sao máu lại chảy đến mức trôi cả chày?"

Có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu, chú thích Kinh Thư, như Thượng Thư khảo dị của Mai Trạc, Thượng Thư Cổ văn sớ chứng của Diêm Nhược Cừ, Cổ văn Thượng Thư khảo của Huệ Đống đều là những tác phẩm được lưu truyền đến ngày nay. Học giả đời ThanhTôn Tinh Diễn mất hơn 20 năm để hoàn thành tác phẩm Thượng Thư Kim Cổ văn chú sớ, là bản chú thích Kinh Thư khá tốt, Tôn Tinh Diễn còn cho rằng "chắc chắn còn nhiều chỗ thiếu sót sai lầm". Gần đây có Thượng Thư chính độc của Tăng Vận CànĐồng văn Thượng Thư của Mưu Đình cũng là những bản tốt. Tác phẩm Thượng Thư hiệu thích dịch luận của Cố Hiệt Cương và học trò của ông là Lưu Khởi Vu là một tập đại thành nghiên cứu về Kinh Thư.