Kỹ thuật trồng ca cao

Tủ sách mở Wikibooks
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cacao được nhìn từ mặt cắt của trái

Nguồn gốc của cây cacao là từ Trung Mĩ và Mexico, được những người Aztec và Maya bản xứ khám phá . Nhưng ngày nay hầu hết những nước nhiệt đới có thể trồng cây này

Chọn giống ca cao[sửa]

  1. Giống nên chọn từ những cây có nguồn gốc rõ ràng, cho có năng suất cao, có khả năng kháng một số sâu bệnh hại chính, khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương.
  2. Chọn quả trên các cây đã có năng suất ổn định từ 6 - 7 năm trở lên (đối với cây thực sinh). Cành ghép, cành dâm, mắt ghép phải được lấy từ nguồn của các cơ quan nghiên cứu hoặc các cơ quan chuyển giao kỹ thuật tuyển chọn, chọn lọc thông qua các nghiên cứu, khảo nghiệm giống.

Lập vườn ươm[sửa]

  1. Vườn ươm ca cao có mái che giảm từ 30 - 40% ánh sáng, có chắn gió xung quanh. Hỗn hợp đất + phân hữu cơ + phân lân được cho vào túi bầu PE xếp theo luống rộng từ 0,8 - 1 m.
  2. Bầu ươm kích thước 14 - 15 x 25 cm (gieo bằng hạt), nếu bầu ghép dùng túi 16 - 18 x 28 cm.
  3. Hạt giống khi lấy về (đã làm sạch lớp nhầy bên ngoài bằng tro bếp hay mạt cưa) được xử lý bằng các loại thuốc gốc đồng như Viben C ...(nồng độ theo hướng dẫn) trừ nấm bệnh Phytophthora.
  4. Hạt giống được đem gieo ủ ngay, không để quá lâu sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm, gieo ủ càng sớm càng tốt.
    1. Cách ủ hạt giống: hạt ca cao được rải mỏng trên bao tải gai ướt (giữ ẩm cho hạt), hàng ngày kiểm tra và đảo nhẹ. Khoảng 3 - 5 ngày hạt nứt nanh.
    2. Gieo hạt vào bầu : (2 cách)

- Hạt chưa ủ : Gieo hạt vào bầu đã tưới ẩm đều, đặt hạt theo hướng nằm ngang, bề nhỏ lên trên, sau đó lấp một lớp đất mỏng lên trên hạt.

- Hạt đã ủ: (nứt nanh) Gieo ngay vào bầu đã tưới đẫm (đều trong bầu) theo chiều thẳng đứng (mầm ở dưới).

Chú ý: Không để mầm quá dài hoặc thâm đầu mầm.

Thời vụ gieo hạt[sửa]

Tốt nhất là tháng 1, 2, 3 để kịp trồng đúng thời vụ. Nơi mưa muộn có thể gieo đầu tháng 4. Nếu gieo muộn (tháng 4, 5), hoặc quá sớm (tháng 9, 10) gieo làm gốc ghép. Cần chú ý hạn chế ẩm độ (đất bầu quá ẩm dễ bị bệnh) có thể dùng tấm ni lông sáng để che mưa cho vườn ươm.

Kỹ thuật chăm sóc vườn ươm[sửa]

- Chọn đất: Dùng đất cát pha, đất đỏ Bazan nhiều mùn, tơi không có đất cục (tạo bộ rễ phát triển). Nếu đất chua nên trộn thêm vôi bột. - Hỗn hợp đất trong bầu: Đất 50 - 60%, phân chuồng hoai 50 - 40%, còn lại là lân, vôi và phân vi sinh. - Kỹ thuật chăm sóc vườn ươm: Thường xuyên kiểm tra vườn ươm, phát hiện kịp thời những triệu chứng sâu bệnh, khô hoặc quá ướt... Tưới nước: Thời tiết bình thường hai ngày tưới 1 lần, chú ý các mép luống bầu thường hay bị khô. Chăm sóc: Thường xuyên làm cỏ trên bầu và rãnh đường đi để chống cạnh tranh dinh dưỡng và tạo nơi ẩn náu của côn trùng phá hoại ca cao.

  • Cứ 10 - 15 ngày phun phân bón lá cho vườn ươm (phun từ dưới lá phun lên).
  • Khi Ca cao có 3 lá thật cần đảo bầu, xếp bầu tốt, xấu thành luống riêng kết hợp bón NPK để chăm sóc tốt.
  • Khi bầu ca cao được 3 tháng, đảo bầu, giãn thưa bầu, kết hợp bón NPK.
  • Kiểm tra định kỳ và phát hiện kịp thời sâu bệnh hại và có biện pháp phòng trừ bằng các loại thuốc Bi 58, Bassa, Viben C, COC 85, Validacin, Carbenzim (nồng độ theo hướng dẫn).
  • Khi bầu ca cao được 3,5 tháng tuổi tiến hành dỡ dàn che để xuất vườn đem trồng.

Tiêu chuẩn, chất lượng bầu ca cao giống[sửa]

- Tiêu chuẩn, chất lượng bầu thực sinh:

  • Hạt ca cao được ươm trong bầu PE 14 - 15 x 25 cm.
  • Cây không bị sâu bệnh, gốc không bị dị dạng.
  • Cây có chiều cao 35 - 40 cm, đường kính gốc trên 5 mm, cây khỏe mạnh, cứng cáp, lá thành thục.

- Tiêu chuẩn, chất lượng bầu ghép:

  • Bầu ghép có thời gian trong vườn ươm từ 5 tháng trở lên, được ươm trong bầu 16 - 18 x 28 cm.
  • Mắt ghép khi xuất vườn phải đạt chiều dài từ 15 - 20 cm trở lên.

Bầu ghép không bị sâu bệnh, không dị dạng, lá thành thục.

Kỹ thuật lên men hạt ca cao[sửa]

Kỹ thuật thu hoạch[sửa]

- Ca cao ở Đăk Lăk một năm có thể thu hai vụ tháng 11, 12, tháng 3, 4 năm sau ). Ngoài ra có thể thu rải rác quả trái vụ ở các tháng khác.

- Màu sắc của trái chín: Trái chín có màu vàng hoặc cam tuỳ theo giống. Thông thường là các rãnh quả chuyển sang màu vàng khi chín.

- Cách thu hái: Dùng kéo cắt cành chuyên dùng hoặc câu liêm để cắt cuống trái, không nên leo trèo cầm trái bẻ hay giật xuống làm trầy xướt hoặc hư đệm hoa, gây ảnh hưởng đến năng suất vụ sau.

- Trái hái xong có thể lưu lại một tuần lễ để đủ một lượng hạt cho 1 lần ủ, khi hạt đã tách ra khỏi trái thì cần phải ủ ngay (không lưu quá 24 giờ). Nhằm tăng chất lượng sản phẩm. Tách hạt bằng cách đập vỡ trái (dùng thanh gỗ hoặc đập xuống đất). Dùng tay moi hạt ra khỏi xơ cùi trái.

Chú ý: Không để trái ca cao quá chín vì hạt có thể nẩy mầm bên trong trái hoặc quả còn xanh không thể lên men được.

Ủ hạt - Lên men[sửa]

Hạt ca cao ủ để giảm vị đắng, chát và hình thành những hương vị đặc trưng. Ủ hay lên men là khoảng thời gian lấy hạt ra khỏi trái, dồn đống để các vi sinh vật phát triển. Sự lên men bắt đầu khi nấm men phát triển trong lớp cơm bao quanh hạt. Nấm men chuyển hoá đường trong lớp cơm hạt thành rượu. Giai đoạn tiếp theo là vi khuẩn ôxy hoá rượu thành axít acetic và chuyển hoá tiếp tục đến cuối cùng là H2¬0 và CO2. lớp cơm hạt bắt đầu rữa và chảy nước vào ngày thứ 2 sau khi lên men. Nhiệt độ khối hạt tăng nhanh trong quá trình ủ lên men. Nhiệt độ khối ủ tăng lên 40 - 450C sau khi ủ 48 giờ. Đảo trộn hạt sẽ làm tăng độ thông thoáng giúp vi khuẩn háo khí lên men hoạt động mạnh. Vào ngày thứ 2 sau khi ủ, nhiệt độ cao và axít acetic làm các tế hạt bị chết.

Các phương pháp ủ hạt ca cao[sửa]

- Ủ đống: Hạt ca cao được đổ thành đống hình nón trên lớp lá chuối được xếp tròn trên mặt đất. Bên dưới một lớp lá chuối kê các cành cây để tạo độ thoáng và giúp dịch nhầy chảy ra dễ dàng. Các lá chuối sẽ được cuộn lên để bao kín khối hạt nhằm giữ hơi nóng trong suốt quá trình ủ. Đống hạt có thể từ 25 - 2500 kg hạt tươi. Hai hoặc ba ngày sau khi ủ phải được đảo trộn đều và giữ kín bằng lá chuối cho đến khi quy trình hoàn tất. Tuỳ theo nhiệt không khí (tuỳ mùa) mà thời gian ủ kéo dài 5 đến 7 ngày.

- Ủ trong thúng: Lót lá chuối xung quanh thúng tre, đổ đầy hạt và đậy thúng lại bằng lá chuối. Hai ngày sau khi ủ trộn đều hạt bằng cách đổ từ thúng này sang thúng khác. Kích thước thúng tuỳ theo khối lượng hạt để có thể chứa từ 10 - 150 kg hạt ca cao tươi. Thời gian ủ từ 5 - 7 ngày.

-Ủ thùng: Ca cao được chứa trong thùng gỗ có đục lỗ ở đáy. Kích thước chiều dài và chiều rộng của thùng có thể thay đổi tùy theo lượng hạt nhưng chiều cao khối hạt không nên vượt quá 50 cm. đảo trộn hạt sau hai ngày ủ. Thời gian ủ từ 5 - 7 ngày. - Ủ khay: Khay gỗ có kích thước 1,2 m x 0,9 m x 0,13 m. lót đáy bằng vạt tre cho dễ thoát nước. Ca cao đổ vào khay một lớp 10 cm. Chồng các khay lên với nhau sau đó dùng vải, bao bì trùm kín lại để giữ nhiệt. Không đảo trộn hạt khi ủ. Thời gian ủ kéo dài 3 đến 4 ngày (ngắn hơn các phương pháp khác).

Kiểm tra hạt trong quá trình ủ[sửa]

Ca cao được gọi là lên men đầy đủ khi có hơn 90% lượng hạt được lên men. Cần kiểm tra thường xuyên trong quá trình lên men bằng cách cắt đôi hạt để quan sát màu sắc của tử diệp. Hạt đã lên men có màu nâu, chưa lên men hoàn chỉnh thì có màu tím.

Làm khô hạt và bảo quản[sửa]

Hạt sau khi lên men phải làm khô bằng phơi hay sấy để độ ẩm từ 60% trở xuống còn khoảng 6,5%. Phơi sấy phải cẩn thận để tránh những mùi lạ phát triển. Phơi sấy phải tiến hành từ từ. Nếu làm hạt khô quá nhanh thì một số quá trình chuyển hoá hoá học sẽ không được hoàn thành, hạt sẽ chua có vị đắng. Tuy nhiên nếu phơi sấy quá lâu nấm mốc và các mùi lạ sẽ phát triển. Nhiệt độ trong quá trình phơi sấy không nên vượt quá 650C. Các cách làm khô hạt:

- Phơi nắng: Trải hạt trên chiếu, khay hoặc sân xi măng nơi có ánh sáng tốt. Trong quá trình phơi phải đảo trộn hạt thường xuyên để đảm bảo hạt khô đồng đều. Nếu ánh sáng đầy đủ, ít mưa thì cần 4 ngày đến 7 ngày để hạt khô.

- Sấy: Nếu không có nắng, hạt sau khi lên men phải sấy. Hạt sấy sẽ bị giảm chất lượng nếu bị nhiễm khói đốt tạo mùi lạ hoặc hạt khô quá nhanh. Các máy sấy sử dụng cho ca cao phải dùng nhiệt gián tiếp thông qua thiết bị trao đổi nhiệt. Hạt ca cao sau khi được phơi sấy khô cần được để nguội sau dồn vào bao đay và cất trữ nơi khô ráo, thoáng mát. Không nên để trực tiếp xuống nền nhà mà cần kê cao 20 - 25 cm, cần kiểm tra thường xuyên để có thể phơi sấy lại tránh hư hỏng khi bảo quản. Thiết bị sấy có thể sử dụng để sấy ca cao như máy sấy tháp, máy sấy thùng quay hoặc máy sấy tầng sôi.

Trồng và chăm sóc cây ca cao[sửa]

Chọn đất[sửa]

Cây ca cao không kén đất, nhưng yêu cầu đất có tầng canh tác dày trên 30 cm, mạch nước ngầm sâu trên 1,5 m (Chú ý: đất phải thoát nước), độ pHKCl >5,? nếu chua cần bón thêm vôi. Cây ca cao có thể trồng trên đất dốc 45o. Ngoài đất Bazan thì đất phù sa cổ, đất cát phù sa ven sông, đất đen, đất mùn trên núi, thậm chí đất xen đá cũng có thể trồng Ca cao tốt. -Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất là khi mưa đều, từ tháng 5 đến 15/7 dương lịch, chậm nhất là 15/8 đối với vùng M'Đrăk, Ea Kar và phía đông huyện Krông Bông. Nếu trồng muộn cần phải chủ động tưới trong mùa khô. - Mật độ, khoảng cách trồng:

  • Đối với vùng đất tốt, nhiều mùn: Trồng mật độ 3 x 3 m hoặc 3,5 x 3 m.
  • Đối với vùng đất xấu: Trồng mật độ 3 x 2,5 m hoặc 2,5 x 2,5 m.
  • Đất có độ dốc phải trồng theo đường đồng mức.
  • Đất ít có khả năng tưới nước phải trồng cây che bóng vĩnh viễn bằng các loại cây như keo dậu, cây anh đào, xoan.... Không nên trồng xen các loại cây có cùng loại bệnh hại trên cây ca cao như bệnh Phytophthora, sâu đục quả...(sầu riêng, cao su, chôm chôm, xoài, điều, mít...). Nếu có trồng các loại cây đó thì trồng theo băng vừa đa dạng hóa sản phẩm, vừa làm cây chắn gió.

Đào hố[sửa]

- Hố được đào tùy theo tính chất đất, thông thường hố được đào trước 1 tháng. - Kích thước hố đào 50 x 50 x 50 cm hoặc 40 x 40 x 40 cm (dài rộng, sâu). Đối với đất có độ dày canh tác thấp dưới 30 cm, tầng đất phía dưới gặp sét cần đào hố rộng và sâu hơn hố bình thường. Khi đào hố tầng canh tác (lớp đất mặt) để qua 1 bên, tầng dưới để qua 1 bên. Khi trộn hỗn hợp phân + đất lấp hố cần lấy lớp đất mặt để trộn.

Cây che bóng và cây chắn gió[sửa]

- Cây chắn gió: Mùa khô ở DakLak do ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc hình thành các đợt gió mạnh làm cây ca cao xơ xác (lá ca cao to bị đánh rách và bị rụng). Gió mạnh gây gãy cành làm tổn thương đến quá trình sinh trưởng của cây gây thiệt hại về năng suất. Do đó cần trồng cây chắn gió cho cây ca cao bằng các loại cây lâm nghiệp, cây ăn quả (trồng theo băng tùy theo địa hình). Nếu đất mới khai hoang từ rừng thưa cần khai hoang theo băng để cây rừng làm cây chắn gió . - Cây che bóng: Qua kết quả nghiên cứu ở một số nước, vườn ca cao không có cây che bóng cho năng suất cao hơn vườn ca cao có cây che bóng. Tuy vậy trong giai đoạn kiến thiết cơ bản rất cần cây che bóng, sau đó tỉa bỏ dần. Song tính bền vững của vườn ca cao không có cây che bóng thấp hơn vườn có cây che bóng như tuổi thọ, bình quân năng suất trong thời kỳ kinh doanh, sâu bệnh hại nhiều hơn, đầu tư chi phí lớn hơn. Ở tỉnh ta, do điều kiện khí hậu đã nêu ở trên, đòi hỏi vườn cây ca cao phải có cây che bóng. Tốt nhất trồng cây che bóng vĩnh viễn bằng các loại cây họ đậu, rễ ăn sâu, lá thưa và không rụng lá trong mùa khô như cây keo dậu, cây trôm mủ, cây núc nác, cây lồng mức. Đảm bảo độ che phủ cho vườn ca cao có ánh sáng hợp lý 40 - 50%. Cây che bóng tạm thời: Có thể tận dụng trồng xen ca cao trong vườn cây ăn quả, vườn điều, vườn cà phê có năng suất thấp, sau đó tỉa bỏ dần thay thế bằng cây che bóng mới. Đối với đất trống muốn trồng cây ca cao, dùng các loại cây như muồng hoa vàng, cốt khí, đậu săng, chuối trồng sớm trước khi trồng ca cao. Gieo cách gốc ca cao 1,0 - 1,5 m theo hướng gió chính. Chú ý: Dù mùa mưa hay nắng khi trồng cây ca cao xong phải che túp ngay. Vật liệu dùng che túp là các vật liệu sẵn có ở địa phương như tranh, lá chuối, cây ngô, bao xác rắn...(Lưu ý: Khi che, đảm bảo cho phần ngọn không được che kín quá hoặc thấp quá).

Phân bón cho cây ca cao[sửa]

- Bón lót:

  • Phân chuồng: 5 - 10 m3/ha.
  • Vôi bột: 300 - 500 kg/ha.
  • Phân lân VĐ: 200 - 300 kg/ha.

(Trộn đều với lớp đất mặt, lấp ngay vào hố trước khi trồng). - Bón thúc: Nên dùng phân hỗn hợp NPK.

  • Đối với đất chưa trồng cây công nghiệp (cà phê) nên dùng phân NPK 16:16:8 (tỷ lệ 1:1:0,5).
  • Đối với đất đang trồng cây công nghiệp, cần chuyển đổi qua trồng cây ?Ca cao nên dùng phân NPK 16:8:16 (tỷ lệ 1:0,5:1)

- Liều lượng phân bón:

  • Trồng mới: NPK 16:16:8: 200 - 250 kg/ha.
  • Chăm sóc 1: NPK 16:16:8: 400 - 500 kg/ha.
  • Chăm sóc 2: NPK 16:16:8: 700 - 800 kg/ha.
  • Chăm sóc 3: NPK 16:16:8: 900 - 1.000 kg/ha.

- Thời gian bón:

  • Trồng mới: Chia nhỏ lượng phân trên, mỗi tháng bón 1 lần.
  • Chăm sóc 1, 2 và 3: Bón vào tháng 5, 7, 9.

Chú ý: Cây tốt bón ít, cây xấu bón nhiều.

Cách bón[sửa]

- Cây Ca cao trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây chưa giao tán) cần xới nhẹ quanh tán, bón xong lấp đất lại. - Khi cây Ca cao giao tán chỉ cần cào lá, bón phân xong lấp lá lại. - Cần dùng thêm phân bón lá có chứa các nguyên tố trung và vi lượng phun 2 - 3/lít /ha/năm (nên chọn các loại phân bón lá có hàm lượng kẽm cao)

Kỹ thuật trồng[sửa]

Trộn đều hỗn hợp đất + phân chuồng hoai + lân VĐ + vôi bột trong hố (kết hợp phun thuốc Confidor trừ mối). Cắt đáy bầu khoảng 1cm, rạch túi bầu và cho vào hố trồng theo chiều thẳng đứng (trồng ngang mặt đất). Dồn đất xuống và dùng tay ấn chặt xung quanh bầu. Tránh làm bể bầu, tỷ lệ cây chết cao. Tạo bồn phía ngoài hố để tưới (tưới dí), sâu 20 cm, rộng 40 cm. Chú ý: Do bộ rễ cây ca cao phát triển từ 0 - 20 cm, vì vậy không nên trồng âm đặc biệt những vùng đất thoát nước kém.

Kỹ thuật bấm cành, tạo hình[sửa]

Về nguyên tắc chung: Phải thông thoáng phía dưới, phía trên phải có độ che bóng cho thân phía dưới. Việc tạo tán rất đa dạng tùy thuộc vào từng cây, do đó cần phải xem xét kỹ hình dáng cây Ca cao để tạo hình, song phải đảm bảo tán cây phân bổ đều các phía, không có cành cao quá hay thấp quá, nên để từ 3 - 5 cành (cây thực sinh) hoặc 3 - 5 thân (cây ghép). Nếu để thân hoặc cành quá dày dẫn đến hoa ít, năng suất thấp. - Cây trồng thực sinh:

  • Không để cây ra thân, chỉ để một thân duy nhất. Độ cao phân cành tốt nhất là 1,4 - 1,6 m. Cần tỉa chồi vượt thường xuyên.
  • Trường hợp cây Ca cao phân cành thấp (không có cây che bóng, che túp hoặc thiếu dinh dưỡng) bấm ngọn nuôi chồi vượt phía trên (1 - 2 chồi khoẻ phía trên ngọn, sau tỉa bớt để lại 1 chồi theo hướng thẳng đứng). Phương pháp này hạn chế thực hiện, tốt nhất sau khi trồng phải được che túp.

- Cây ghép:

  • Khi trồng bầu mắt ghép phải có cây tạm (cây khô, tre nứa) để buộc cho mắt ghép thẳng đứng (chú ý không buộc quá chặt và buộc bằng dây mềm).
  • Nên tỉa bớt cành nằm sát mặt đất. Nếu cành phát triển cùng một phía, nên hãm ngọn để cành ngang phát triển đều các phía (khi hãm ngọn cần tỉa bớt cành yếu theo kiểu cách đều hai bên, nên để 3 - 5 cành).

Lưu ý: Phải loại bỏ những cành tăm, cành mọc xiên vào phía trong tán, cành mọc quá gần nhau. Thời gian bấm cành, tạo hình phải thường xuyên, song các năm đầu sau trồng (1 - 2 năm) phải cẩn thận với việc tạo hình. Nếu không làm tốt sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển sau này.

Sâu bệnh và biện pháp phòng trừ[sửa]

Một số loại côn trùng hại chính cây ca cao[sửa]

- Mối: (H25, H26) là tác hại lớn đối với cây ca cao ở tỉnh ta, có nơi mối phá hại từ 50 - 60%. Triệu chứng: Mối hại nhất là giai đoạn cây ca cao còn non (trồng mới). Mối cắn ngầm dưới đất hay sát mặt đất làm cho cây khô héo và chết. Biện pháp phòng trừ:

  • Dùng thuốc Confidor nồng độ 20 cc thuốc pha với 10 lít nước. Phun vào hỗn hợp đất + phân trước khi trồng. Trồng xong phun trở lại trên cây và phun quanh gốc ca cao.
  • Một bình thuốc đã pha có thể xử lý 60 - 80 hố, 01 ha cần 0,3 - 0,4 lít thuốc. Nếu nơi nhiều mối cần 1 lít thuốc để dự phòng phun.
  • Bọ cánh cứng hại lá (Apogonia spp, Adoretus spp: H27) Bọ cánh cứng ăn lá ca cao thuộc nhiều loại khác nhau như bọ nâu, bọ xám, bọ hung kim.

Tập tính: Thường ăn lá vào ban đêm, ban ngày trú ngụ nơi tối hay dưới đất.

  • Biện pháp phòng trừ:
    • Thường xuyên làm sạch cỏ không cho côn trùng trú ngụ.
    • Có cây che bóng, che túp hợp lý nhất là cây ca cao ở giai đoạn kiến thiết cơ bản.
  • Dùng thuốc hóa học như Basudin, Sevin... phun theo nồng độ hướng dẫn, nên phun vào buổi chiều.

- Bọ chích hút (Psrudodoniella): Chích hút nhựa trên thân, quả làm tế bào chết dẫn đến năng suất không cao. Biện pháp phòng trừ:

  • Tránh dùng cây che bóng có côn trùng ký sinh.
  • Dùng thiên địch kiến đen để phòng trừ.

Chú ý: Để kiến đen tồn tại, trước hết phải tiêu diệt kiến vàng tạo môi trường cho kiến đen tồn tại và phát triển, lấy lá dừa làm tổ cho kiến.

  • Dùng kiến đen làm thiên địch? không cho ngài đẻ trứng trên quả.

- Sâu đục thân (sâu hồng) Glenia celia (H28): Sâu thường đục phần thân và cành, đùn phân và mạt cưa ra ngoài miệng lỗ đục rơi xuống đất. Cành, thân bị đục sẽ khô héo và chết. Biện pháp phòng trừ:

  • Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phát hiện sớm, cắt bỏ thân, cành bị sâu và tìm diệt.
  • Dùng thuốc hóa học như Basudin 50EC, Polytrin 440 ND, Supracide 40 ND...phun đều các cành non nơi sâu thích đục.

- Sâu đục trái ca cao (H29): Ký chủ trên cây chôm chôm, là sâu hại chính ở Đông nam châu Á. Việt Nam mới trồng ca cao nên cần đề phòng loại sâu hại này (đối tượng kiểm dịch). Triệu chứng: Quả chín không đều, bổ quả thấy sâu làm dính các hạt vào nhau (kết hòn). Sâu sống 2 - 3 tuần sẽ biến thành nhộng, sau vũ hóa thành ngài (thành trùng). 5 - 8 ngày sau sẽ đẻ trứng trên vỏ quả ca cao. Trứng nở, sâu đục lỗ chui vào cùi quả. Vòng đời của sâu đục quả 35 ngày.

  • Biện pháp phòng trừ:
    • Không cho đưa quả đi nơi khác, không trồng cây chôm chôm trong vườn ca cao.
    • Trồng dòng ca cao có vỏ quả cứng để kháng.
    • Sử dụng thuốc trừ sâu (nên thận trọng côn trùng đề kháng thuốc), nên thay đổi thuốc dùng và phun đúng nồng độ hướng dẫn.
    • Khi phát hiện nhộng trên lá thì dùng thuốc hóa học để tiêu diệt.
    • Thu hoạch quả thường xuyên, tỉa cành, tạo hình thông thoáng (đây là kỹ thuật chính hạn chế sâu đục quả ca cao).

- Các loại sâu khác như sâu đo, sâu cắn lá, bọ nẹt... khi phát hiện dùng thuốc hóa học phòng trừ.

Một số động vật hại Ca cao: Khỉ, chuột, sóc, chim gõ kiến[sửa]

Tác hại: Bẻ quả, đục quả khoét lỗ, gặm quả, nhất là quả già gần chín. Biện pháp phòng trừ: Đặt bẫy đánh bắt, dùng biện pháp xua đuổi. Hiện nay có một số thuốc gây nhiễm vi rút gây hại qua đường máu đối với các động vật trên.

Bệnh hại[sửa]

Cũng như các loại cây trồng khác cây ca cao thường bị các loại bệnh phát triển mang tính cục bộ từng vùng. Do đó công tác kiểm dịch thực vật phải đặc biệt coi trọng.

  • Nguyên nhân bệnh phát triển:
    • Do khoa học kỹ thuật phát triển.
    • Hệ thống cây trồng ngày càng đa dạng.
    • Sử dụng nhiều thuốc hóa học dẫn đến côn trùng và bệnh hại kháng thuốc.

Biện pháp tốt nhất để phòng trừ:

    • Chọn giống kháng (trước, trong và sau khi trồng). Giống mang tính kháng đa gen mang tính bền vững hơn đơn gen.
    • Dùng các biện pháp canh tác tổng hợp thích nghi cho cây ca cao nhưng không thích nghi đối với côn trùng và bệnh hại.
    • Dùng phương pháp phòng trừ sinh học, phóng thích các tác nhân sinh học (côn trùng, nấm) vào môi trường: Đất, nước, cây, làm giảm thiểu sâu bệnh hại. Song phương pháp này ít sử dụng vì hiệu quả thấp do chi phí lớn. Dùng thuốc hóa học bằng các loại thuốc lưu dẫn nội hấp trong cây hạn chế ảnh hưởng đến môi trường.

- Bệnh Phytophthora Bệnh này ký sinh trên 150 loài thực vật khác nhau, đồng thời bệnh Phytophthora cũng rất nhiều chủng. Ở Đông nam Á thường phát triển bệnh Phytophthora palmivora. Nấm Phytophthora palmivora nằm trong đất, khi có độ ẩm cao thì phát triển. Mưa lớn bắn lên hoặc do kiến, mối và bọ cánh cứng làm môi giới lây lan trên thân, lá, quả. Một quả bị bệnh nặng có thể có 4 triệu bào tử lây lan. Triệu chứng: Trên quả, thân và lá thành thục khi bệnh xuất hiện thì vết bệnh cứng (ấn tay vào thấy cứng), nếu mềm là bệnh khác. Riêng lá non dễ bị rũ chết. Để phát hiện bệnh Phytophthora palmivora thường kiểm tra vào buổi chiều vết bệnh ẩm từng vùng. Nếu trên thân cây lấy dao gọt vỏ ca cao thấy vết bệnh màu đỏ. Cây, quả ca cao hơi ủ rũ (không tươi như những cây khác) do dinh dưỡng không vận chuyển được. Biện pháp phòng trừ:

  • Chọn giống kháng bệnh.
  • Bón phân hữu cơ hoai đặc biệt là phân gia cầm tạo xạ khuẩn kháng bệnh.
  • Dùng thuốc hóa học: Dùng các loại thuốc lưu dẫn nội hấp Phosphonas, khoan lỗ tiêm thuốc đã pha vào thân cây.

Cách tiến hành:

  • Dùng Phosphonas pha với nước lọc (nước sạch) tỷ lệ 1/1. Dùng mũi khoan 5,5 mm khoan sâu lớn hơn đầu tim bơm (khoảng 30 - 40 mm).

Chú ý: Khoan hơi sâu để tạo một khoảng trống trong thân cây để thuốc ứ đọng bên trong dần dần chuyển thuốc đi lên phía trên thân thông qua mạch gỗ, sau được quang hợp chuyển qua mạch libe xuống cành và rễ.

  • Khi khoan lỗ tiêm thuốc, không nên chọn đệm hoa mà chọn chỗ trơn và chỗ lồi trên thân. Nên khoan thẳng 90o, cách mặt đất từ 0,3 - 0,5 m trên thân chính.
  • Tùy thuộc vào chiều cao và đường kính tán để xác định liều lượng thuốc tiêm. Cứ ?1m đường kính tán cần 20cc thuốc đã pha.
  • Tiêm thuốc vào thời gian trời khô ráo. Một năm tiêm 2 lần (6 tháng/lần). Tiêm vào buổi sáng sớm.

Chú ý: Thuốc Phosphonas sử dụng rất hiệu quả cho nhiều loại cây có bệnh Phytophthora palmivora như sầu riêng, xoài, bơ, mít... Phương pháp tiêm không gây hại đối với môi trường, con người và động vật. Hiệu quả trị bệnh cao, giảm chi phí trong sản xuất. Tác dụng thuốc tốt nhất đối với cây trên 3 năm tuổi. Ngoài ra phòng trừ bệnh Phytophthora palmivora ngoài Phosphonas ra còn có các loại thuốc Copper hydroxide, Coper sulfat, Mancozel, Rhidomin? MZ 72WP... phun để phòng trừ. - Bệnh VSD (bệnh chết ngược do tắc mạch dẫn H32): Bệnh này xuất hiện ở Đông Nam Á, các nước khác chưa thấy xuất hiện. Triệu chứng bệnh:

  • Lá vàng, có đốm xanh trên lá.
  • Cuống lá mạch dẫn hóa nâu (chạy theo cuống lá khi chẻ cuống lá thấy xuất hiện).
  • Sờ vào biểu bì trên cành bị bệnh thấy nhám, sần như da cá sấu (lấy dao chẻ cành thấy mạch dẫn hóa nâu)
  • Khi rụng nách cuống lá có nấm màu trắng. Nấm phát tán lúc 2 - 3 giờ sáng, 8 - 9 giờ tế bào nấm sẽ chết. Nấm chỉ phát tán vài mét, nếu xa hơn là do giống bị nhiễm.
  • Trong quá trình phát tán, tế bào nấm bám vào lá non. Độ ẩm cao tế bào nấm đi vào trong cuống lá và đi ra phía ngoài của cành, quá trình này diễn biến khá lâu khoảng 3 - 4 tháng. Như vậy khi cây bị bệnh VSD cành lá vẫn phát triển, khi bị nhiễm bệnh thì lá bên ngoài vẫn phát triển bình thường, còn lá bên trong thì bị bệnh. Bệnh thường thấy vào cuối mùa mưa.
  • Giống Amenado rất mẫn cảm với bệnh VSD. Giống Trinitario ít mẫn cảm hơn.

Biện pháp phòng trừ:

  • Chọn giống kháng bệnh hoặc ít bị nhiễm bệnh.
  • Cần chẩn đoán chính xác bệnh.
  • Vườn ươm cách xa vườn sản xuất.
  • Vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa cành bị bệnh sâu vào phía trong 30 cm, chôn vùi cành lá bệnh.

- Bệnh cong lá (Thán thư) do nấm Colletotrichum gây ra. Triệu chứng:

  • Có nhiều vết đen trên lá (gân lá vẫn xanh).
  • Cuống lá, đầu quả vết bệnh ăn lõm vào trong. (bệnh Phytophthora thì nằm ở bên ngoài).
  • Bệnh thường xuất hiện trong mùa khô, nhất là vườn ca cao thiếu hoặc không có cây che bóng, và thiếu nước.
  • Bệnh cong lá thường bị khi quả còn nhỏ.

Bệnh cong lá không gây thiệt hại lắm, khi cây bị bệnh lá rụng, chồi mới phát sinh nếu bị nhiễm lá cũng bị rụng. Biện pháp phòng trừ:

  • Cần có cây che bóng hợp lý, nếu vườn ca cao quá khô cần tưới nước bổ sung.
  • Dùng các loại thuốc có gốc đồng để phòng trừ.

Ngoài ra hiện nay ở Đông Nam Á chưa xuất hiện bệnh tua mực (Witches' Broom) và bệnh sương xám (Frostypodrot), các bệnh này chỉ xuất hiện ở Châu Mỹ. Bệnh sưng cành ca cao xuất hiện ở Châu Phi. Đây là các loại bệnh nguy hiểm nằm trong danh mục kiểm dịch thực vật. Khi bệnh này phát triển sẽ ảnh hưởng đến môi trường và giảm sản lượng ca cao.

Phòng chống cháy[sửa]

Hàng năm vườn ca cao có một lượng lá khô rụng xuống rất lớn cho nên cần phải làm tốt công tác phòng chống cháy. Cần làm các đường băng phòng chống cháy: Cày và làm sạch cỏ khi mùa khô đến. Hạn chế dùng vật liệu dễ cháy che bóng cho cây ca cao trong mùa khô như cỏ tranh, rơm rạ.

Tránh dùng lửa trong mùa khô khi chăm sóc các vườn ca cao.